Nhân dân Vĩnh Long trong Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968

Trong Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy (TTC-ND) Xuân Mậu Thân 1968, bên cạnh những chỉ đạo, quyết định mang tính chiến lược của Bộ Chính trị, Khu ủy Khu 9 và Tỉnh ủy Vĩnh Long, thì sự đồng lòng ủng hộ, đóng góp sức người, sức của của nhân dân Vĩnh Long đã góp phần làm nên thắng lợi to lớn của chiến dịch. Toàn bộ khâu hậu cần, nuôi quân đều do quần chúng nhân dân đảm nhiệm trong suốt sáu ngày đêm cách mạng làm chủ thị xã Vĩnh Long.

455

“Tết lớn”

Vĩnh Long nằm trên quốc lộ 4 (nay là quốc lộ 1A), lộ số 4 (16B), lộ số 7, số 8, lộ 23 và bờ nam sông Tiền, được xem là cửa ngõ vào miền tây, có nhiều tuyến giao thông chiến lược với các con sông: Tiền, Hậu, Măng Thít, Tân Dương… Ta nhận định chiến trường Vĩnh Long là một trong những khâu quan trọng nhất trong việc giải phóng cả miền Tây Nam Bộ, phá vỡ thế phòng ngự chiến lược, cắt đứt hậu cứ quan trọng của chính quyền Sài Gòn, tạo ra bước ngoặt có tính chất quyết định trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước. Khu ủy Khu 9 đã chọn Vĩnh Long làm trọng điểm 2 ở miền Tây Nam Bộ (Cần Thơ làm trọng điểm 1) trong cuộc TTC-ND Xuân Mậu Thân năm 1968.

Quân và dân tỉnh Vĩnh Long hành quân tham gia chiến đấu trong Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Quân và dân tỉnh Vĩnh Long hành quân tham gia chiến đấu trong Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu

Trong khi đó, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn xác định, giữ vững chiến trường Vĩnh Long là giữ được thế phòng ngự chiến lược cho Sài Gòn, cắt giao thông và chi viện miền tây, đông và Sài Gòn của ta. Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã ra sức biến nơi đây thành căn cứ quân sự hỗn hợp, làm bàn đạp để đánh phá cách mạng trên chiến trường Vĩnh-Sa-Trà (Vĩnh Long – Sa Ðéc – Trà Vinh). Tại Vĩnh Long, quân đội Sài Gòn cho xây dựng sân bay trực thăng cơ động, tập trung nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại, nhiều binh đoàn chiến đấu như: Hải quân, thiết giáp, pháo binh, 40 tàu chiến các loại; có hơn 21.700 binh lính, gồm hai sư đoàn (biên chế đủ), thuộc Sư đoàn 9 bộ binh, tiểu đoàn biệt động số 43, năm tiểu đoàn bảo an cơ động, một tiểu đoàn cảnh sát dã chiến, cùng lực lượng biệt kích, tình báo, mật vụ… chủ yếu đóng tại thị xã Vĩnh Long.

Ðồng chí Nguyễn Ký Ức, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long, người trực tiếp chỉ đạo và chỉ huy chiến dịch Mậu Thân cho biết, Tỉnh ủy đề ra chủ trương phải chuẩn bị gấp rút mọi mặt: Củng cố lực lượng chính trị, binh vận, quân sự, thành đội ngũ ở từng xã, huyện, thị xã, với tư thế sẵn sàng chiến đấu cao. Hậu cần phải chuẩn bị chu đáo, đầy đủ vũ khí, thuốc men, lương thực, thực phẩm, với tinh thần quyết tâm cao nhất – giành thắng lợi lớn nhất. Ðồng thời, phát động tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và quần chúng, cổ vũ phong trào quần chúng đóng góp sức người, sức của cho tiền tuyến, sẵn sàng, chủ động bước vào chiến dịch mùa khô, với khí thế quyết chiến, quyết thắng.

Ngày 27-1-1968, Khu ủy Khu Tây Nam Bộ nhận mật lệnh tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Cũng trong ngày hôm ấy, khi lệnh “tổng khởi nghĩa” về đến Vĩnh Long, Phân ban Khu ủy họp khẩn cấp và ra quyết định tập trung lực lượng tiến công vào cơ quan đầu não của địch ở thị xã Vĩnh Long. Ngày 28-1-1968, Ban Chỉ huy Mặt trận Cửu Long (gồm hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh) được thành lập, đã xác định phương án tiến công và nổi dậy ở thị xã Vĩnh Long, kiểm tra công tác chuẩn bị, đánh giá tình hình đối phương, đồng thời hạ quyết tâm: “thề cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh; vừa đi vừa chạy – vừa chạy vừa củng cố đội hình; vừa ăn vừa bàn bạc, bảo đảm nổ súng đúng ngày “N”, giờ “G”.

Theo Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Long Nguyễn Bách Khoa, thực tế từ mùa khô năm 1966 – 1967, Tỉnh ủy Vĩnh Long đã chỉ đạo các cấp ủy và cán bộ, đảng viên, chiến sĩ được trang bị sẵn, quyết tâm mở rộng vùng giải phóng; bám trụ và mở rộng vùng ven, liên tục tiến công địch làm lỏng kìm kẹp ở đô thị, tạo mọi điều kiện khi có thời cơ tiến công giải phóng đô thị, chuẩn bị “ăn Tết lớn”. Vì vậy, khi Trung ương, Khu ủy ra chỉ thị TTC-ND Xuân Mậu Thân 1968, quân và dân Vĩnh Long đã trong tư thế sẵn sàng “quyết chiến, quyết thắng”; phá hủy sân bay Vĩnh Long, làm chủ thị xã Vĩnh Long trong sáu ngày đêm liền, làm chủ bến phà Mỹ Thuận, cắt đứt giao thông trên quốc lộ 4 suốt 22 ngày.

Ý Ðảng hợp lòng dân

Trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968, toàn tỉnh Vĩnh Long có 9.415 người tham gia phục vụ hậu cần, dân công hỏa tuyến, nuôi chứa lực lượng của ta; hơn 8.000 gia đình tham gia đóng góp về sức người, sức của; 126.223 giạ lúa, gạo; 59.221.871 đồng tiền Việt Nam Cộng hòa thời điểm năm 1968, 595 chỉ vàng, 515 con trâu, bò, heo; 1.532 xuồng, ghe máy, hàng chục nghìn đòn bánh tét; hàng nghìn lít xăng, dầu, cùng nhiều vật dụng chế tạo vũ khí, vải may cờ, thuốc trị thương và nhiều nhu yếu phẩm khác. Ở huyện Tam Bình, có hàng nghìn thanh niên hăng hái tòng quân. Nhiều bà mẹ nuốt nước mắt vào lòng, tiễn người con cuối cùng của mình đi dân công hỏa tuyến như má Tư, má Út Mười… “Nhiều chị em phụ nữ ngay trên khán đài đã cởi đôi bông cưới (vật quý giá nhất khi về nhà chồng của người con gái) để hiến cho cách mạng như: chị Hai ở ấp 4, xã Mỹ Lộc (huyện Tam Bình), bà Ðặng Thị Xuân, xã Hòa Hiệp, chị Châu Thị Hường ở Trà Sơn, Hựu Thành (Trà Ôn), chị Lê Thị Yến (huyện Vũng Liêm)… Gia đình ông Dương Văn Nhã (Sáu Thợ) ở xã Hòa Bình, huyện Trà Ôn, dù nhà không còn gạo, nhưng vẫn vay mượn 10 giạ lúa đóng góp cho cách mạng; hay gia đình bà Nguyễn Thị Hoa, ấp Tích Khánh, xã Tích Thiện, huyện Trà Ôn đóng góp 200 giạ lúa và hai triệu đồng vào thời điểm đó (tương đương bốn tỷ đồng bây giờ)”, đồng chí Nguyễn Bách Khoa lần giở danh sách kể về những cá nhân tiêu biểu đóng góp cho chiến dịch Mậu Thân.

Trở lại cống Miễu Trắng, ấp 11, xã Mỹ Lộc, huyện Tam Bình (Vĩnh Long) sau 50 năm kể từ khi tham gia chiến dịch Mậu Thân 1968, ông Nguyễn Văn Ba còn nhớ như in hình ảnh của những năm chiến trường đỏ lửa. Ông Ba là một trong những người được phân công tiếp nhận đóng góp của nhân dân cho chiến dịch. Ông kể, sau cuộc vận động tuyên truyền, người dân tự dẫn trâu, bò, bắt heo, gà, vịt đem tới ủng hộ cách mạng mà không cần ghi tên tuổi, số lượng. “Lúc đó, xuồng, ghe đậu kín ở miệng cống này. Mỹ Lộc lúc bấy giờ thật sự là nơi tập kết vũ khí, thuốc men, lương thực… cho chiến trường thị xã. Ở đây có khoảng 700 đến 1.000 dân công hỏa tuyến để vận chuyển bánh tét, lương thực, súng ống, đạn dược lên chiến trường, rồi từ đó chuyển người bị thương về đây chữa trị. Dân mình hồi đó sống dưới ách đô hộ của Mỹ – ngụy cho nên nghèo khổ lắm, nhưng họ vẫn hy sinh cuộc sống riêng tư vì nghĩa lớn giải phóng quê hương, đất nước”. Ông Nguyễn Văn Ba chia sẻ.

Ðồng chí Nguyễn Bách Khoa nhận định, cuộc chiến của chúng ta là chiến tranh nhân dân, cho nên điều quan trọng nhất là hậu cần trong dân. “Có nhân dân che chở, làm hậu phương vững chắc thì bộ đội ta mới yên tâm chiến đấu. Rồi lực lượng dân công hỏa tuyến cũng từ nhân dân mà có. Cái gì hợp lòng dân thì dân rất sẵn sàng. Chiến dịch Mậu Thân cho thấy, ý Ðảng hợp lòng dân và nhân dân đã đồng lòng ủng hộ. Ðây là bài học kinh nghiệm quý giá, không bao giờ cũ ở bất kỳ giai đoạn nào”, Trưởng Ban Tuyên giao Tỉnh ủy Vĩnh Long khẳng định.

BÙI QUỐC DŨNG